vì sao việt nam nghèo

Hiện tại, vợ chồng Tiến Minh đều đã qua thời đỉnh cao phong độ và nằm ngoài top 100 nên Thùy Linh được coi là niềm hy vọng số một của cầu lông Việt Nam trên đấu trường quốc tế. Tính từ đầu năm đến nay, Thùy Linh là tay vợt Việt Nam dự nhiều giải quốc tế nhất. Người Việt chăm chỉ nhưng vì sao vẫn nghèo? Thứ năm, 21/04/2016 - 12:30. (Dân trí) - Năm 2015, mỗi người Việt làm được gần 80 triệu đồng và với con số này, năng suất lao động của Việt Nam vẫn trong diện thấp nhất khu vực. Phải chăng là do người Việt kém cỏi, chậm Ngày đăng: 24/10/2012, 16:23. Nghèo đói ở Việt Nam ,Thực trạng nguyên nhân và giải pháp Lời giới thiệu1. Bối cảnh nghiên cứuBước sang thế kỷ XXI, đói nghèo vẫn là vấn đề có tính toàn cầu. Một bứctranh tổng thể là thế giới với gần một nửa số dân sống dưới 2USD Vay 5s Online. – WHY IS VIETNAM STILL POOR? – Mọi thứ rồi cũng sẽ ra đi. Chỉ duy nhất sự tử tế còn ở lại. Có phải đất nước ta nghèo vì Dân số đông, diện tích nhỏ, chiến tranh triền miên, tài nguyên ít ỏi, lịch sử đau thương, rào cản ngôn ngữ hay thể chế chính ngần đó nguyên nhân đã đủ để cho một đất nước nghèo chưa? Vâng xin thưa đủ để bạn nghèo đi vì những năm tháng qua và thật khó khăn để làm giầu lên trong thời gian tới. Vậy bạn muốn nói rằng trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc, đất nước Việt Nam cho tới năm nam luôn bị đô hộ, cai trị, bóc lột và chiến tranh điều đó đã tác động lớn tới nền kinh tế khó khăn kiệt quệ kéo dài đã gây nên những hệ lụy ảnh hưởng rất nhiều về văn hoá, tập tục. Thay vào đó là những mưa cầu khát vọng làm sao thoát được sự thống trị và được tự do, cơm ao ấm no cuộc sống bình dị an nhàn dẫn tới thói quen cam chịu đã làm triệt tiêu đi những sáng tạo vượt bậc, khát vọng lớn lao, tinh thần quyết liệt đua tranh. Khi nói tới đây liệu có phải chúng ta đang đổ thừa cho biến cố lịch sử đã trôi qua! Đúng vậy đó là những nguyên nhân của biến cố lịch sử, chúng ta khổng thể thay đổi! Vậy phải chăng chỉ có một mình đất nước ta chìm trong gian khó bởi đô hộ, chiến tranh, tài nguyên ít ỏi không? Một so sánh Hàn Quốc, Israel, Singapore, là những hình mẫu vươn lên trở thành những quốc gia đứng đầu về điện tử, công nghiệp như Hàn Quốc, khoa học kỹ thuật như Israel, dịch vụ như Singapore để chúng ta đồng cảm và nhìn lại bỏ qua quá khứ để đi tìm câu hỏi đích thực vì sao ta vẫn nghèo đói. Phải chăng những điều sau đây là những nút thắt quan trọng hơn Chúng ta vẫn vốn tự hào là một dân tộc thông minh, nhanh trí, ham học được cả thế giới phải thừa nhận thông qua các cuộc thi trí tuệ Omlypic toán, lý, hoá luôn ở vị trí dẫn đầu thế giới Thật không may rằng thay vì sử dụng thông minh đó để cải tiến phát huy sáng tạo, sáng chế chúng ta chỉ dùng trí thông minh để đối phó ví như ngày xưa thì chiến tranh, nghèo đói, khó khăn, áp bức bóc lột. Ngày này thì lách luật, trốn tránh, mưa mô lươn lẹo trong mọi hoạt động từ giáo dục, học tập, kinh doanh, tôn giáo, hay cả chính trị ngoại giao Dẫu cho có thông minh hơn nữa, chịu khó hơn, chịu khổ hơn cũng không khiến chúng ta có được những cải tiến, sáng tạo trong lao động, khoa học đời sống và công nghệ vì sự thông minh không đồng hành với tầm nhìn rộng, tư duy dài hạn. Lấy ví dụ như khi chúng ta đi lao động, học tập tại các nước phát triển, mong muốn cuối cùng lại không phải là học được công nghệ, bí quyết kinh doanh hay khoa học, dịch vụ để mang về ứng dụng cho công việc, hoạt động và cuộc sống mà thay vào đó là làm sao để có được mong muốn cá nhân đạt được nhiều hơn. Xem vào thành quả nông nghiệp của chúng ta sẽ thấy chúng ta không tạo nên được bao nhiêu thay đổi. Vậy còn khát vọng thì sao? Chính khát vọng mới là sự dẫn dắt chúng ta trở nên sẽ ra sao, làm được những gì, đi được tới đâu. Nếu cả dân tộc với khát vọng quá khiêm tốn, việc đạt được mục đích và dễ thoả mãn với điều nhỏ nhoi khiến chúng ta không có hoài bão lớn lao, lý tưởng cao đẹp và thành công rực rỡ vang dội. Bởi chính những khát vọng nhỏ bé đã không thôi thúc chúng ta dám làm những điều phi trường. Không có khát vọng lớn thì chẳng có động lực biến chúng ta thành những chiến binh tận hiến sẵn sàng chiến đấu không ngừng nghỉ cho những khát vọng tạo nên những điều vĩ đại thần kỳ. Lịch sử 4000 năm nhưng chẳng có được bao năm độc lập để tạo nên bản sắc văn hoá riêng mà luôn bị đồng hoá, lai tạp, chắp vá từ tín ngưỡng, sắc tộc, văn hoá cho đến tôn giáo Nhiều đình chùa, miếu mạo tạo nên quá nhiều hội hè, nghi lễ, thờ tự, cũng kiễng khiến chúng ta mất nhiều thời gian thông qua việc tụ tập, a dua, hội họp, chia phe, kết phái, lập hội chia nhỏ xé lẻ sự đại đoàn kết sức mạnh. Từ đó chúng ta chẳng thể tạo nên sức mạnh hùng cường từ thể thao cho tới những tập đoàn kinh tế có sức ảnh hưởng lớn mạnh tới thế giới. Đó là kết quả của chủ việc đề cao chủ nghĩa cá nhân đã làm suy yếu tinh thần đại đoàn kết dân tộc Sự ích kỷ, ghen tị của đám đông không đủ chứng kiến cùng nhìn nhận thấu đáo bóp nghẹt sự khác biệt, sáng tạo độc đáo. Rõ ràng khi tinh thân thần đại đoàn kết dân tộc thiếu đi thì lòng tin của từng cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức lẫn xã hội không tin tưởng vào các hoạt động sản xuất tới thương mại từ đó từ doanh nghiệp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm tạo cơ hội tốt cho các doanh nghiệp nước ngoài chiếm lĩnh thị trường trong nước. Ẩn sâu bên trong sự nhiệt tình hiếu khách, xởi lởi hồ hởi thân thiện thiệt tình lại chứa đựng sự hời hợt, hời hợt trong quan hệ xã giao, hời hợt trong nghiên cứu khoa học, hời hợt trong tranh luận và phản biện, ngay cả đến lòng tin đức tín chúng ta cũng rất hời hợt để từ đó khó lòng chúng ta có được những đồng minh hết lòng với chúng ta, hết mình với công việc với sản phẩm hay bất cứ những thứ gì chúng ta đã tạo ra và để lại cho tới ngày nay. Vì hời hợt nên chẳng thể kiên trì, kiên định, chúng ta không tạo nên một nền kinh tế mũi nhọn nào đóng góp và nổi danh khắp năm châu bốn biển từ công, nông nghiệp, luyện kim, khai khoáng, xây dựng, may mặc, điện tử, điện lạnh, công nghệ thông tin, truyền thông, du lịch hay cả ẩm thực chẳng thể tìm ra một ngành nghề, công ty nào, thương hiệu nào gì khiến chúng ta đáng tự hào hơn thế nữa. Còn tiếp… Khởi nghiệp giữa sa mạc Dựa trên câu chuyện có thật ở đời thường. Xem thêm Chuối Việt Nam, giá trị bị quên lãng Cùng Vinachuoi trải nghiệm tinh túy của chuối Việt Nam Xem thêm Đăng nhập Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính vào ngày 14/7 vừa ban hành Quyết định số 1227, phê duyệt danh sách 32 dân tộc còn gặp nhiều khó khăn và 14 dân tộc có khó khăn đặc thù, hiện sinh sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021- 2025. Cụ thể, 32 dân tộc khó khăn bao gồm Hmong, Xtiêng, Gia-rai, Dao, Nùng, Tày, Sán Chay, Lào, Giáy, Giẻ-Triêng, Mường, Ba-na, Hrê, Chăm, Ê-đê, Cơ-ho, Khơ-me, Mạ, La Hủ, Phù Lá, La Chí, Kháng, Hà Nhì, Xinh-mun, Co, Ta-ôi, Cơ-tu, Khơ-mú, Bru-Vân Kiều, Mnông, Ra-glai, Xơ-đăng... Còn các dân tộc có khó khăn đặc thù được phê duyệt được tiếp tục thụ hưởng các chính sách áp dụng đối với các dân tộc thiểu số rất ít người đã ban hành và còn hiệu lực. Theo Ủy ban Dân tộc Việt Nam, nước này là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc cùng sinh sống. Người Kinh chiếm 85,4% dân số Việt Nam, với 78,32 triệu người. 53 dân tộc thiểu số còn lại chỉ chiếm 14,6% dân số. Trong đó, 96% các dân tộc thiểu số nói tiếng mẹ đẻ của họ. Lâu nay những chương trình hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo’ được Chính phủ Việt Nam tuyên truyền là thành công, giúp người dân thoát nghèo, không tái nghèo... Nhưng vì sao lại còn nhiều người dân tộc thiểu số khó khăn như vậy? Thật ra thì đúng là có sự khác biệt, ai cũng nhận thấy giữa dân tộc thiểu số và đa số có sự khác biệt rất lớn về đời sống kinh tế và các điều kiện hạ tầng cơ sĩ Phạm Quỳnh Hương Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương, hiện công tác tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, khi trả lời RFA hôm 16/7 cho rằng “Thật ra thì đúng là có sự khác biệt, ai cũng nhận thấy giữa dân tộc thiểu số và đa số có sự khác biệt rất lớn về đời sống kinh tế và các điều kiện hạ tầng cơ bản. Nó cũng tương tự như sự khác biệt giữa nông thôn và đô thị, vì dân tộc ít người thường sống ở vùng sâu vùng xa có điều kiện hạ tầng không thuận lợi. Tuy nhiên những năm gần đây nhà nước cũng có nhiều chương trình như chương trình nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo, giúp đời sống người dân tộc thiểu số thay đổi.” Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương cho biết thêm về các chính sách hỗ trợ người dân tộc thiểu số của Chính phủ Việt Nam “Các chính sách thì thường chung thôi, dân tộc nào cũng được hưởng theo một chính sách. Bên cạnh đó còn có các chương trình, như gần đây có chương trình hỗ trợ cho các dân tộc rất ít người, tức là số người rất ít thì có một chương trình riêng. Những dân tộc đó còn được hưởng nhiều hơn so với các dân tộc khác. Tôi thấy nó cũng nhằm vào các đối tượng cụ thể, đem lại hiệu quả hỗ trợ nhất định.” Theo UNDP Việt Nam, dù Việt Nam đã có những kết quả về xóa đói giảm nghèo’, nhưng chưa bền vững; tình trạng tái nghèo tại Việt Nam còn cao, nhất là khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Trong năm 2020, tỷ trọng hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm trên 58,53% tổng số hộ nghèo trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Một người dân tộc ở Tây Bắc giấu tên vì lý do an toàn khi trả lời RFA nói “Không có hỗ trợ, như chú trên 3,4 hecta, nhưng Nhà nước có tài trợ gì đâu, phải trồng rừng thì Nhà nước mới hỗ trợ. Mình cũng trồng rừng mà Nhà nước có hỗ trợ đâu? Nếu mà trồng cây theo họ thì Nhà nước hỗ trợ 70% vốn để trồng? Chứ không phải tự tiện trồng được đâu. Cái tốt nhất là ưu tiên khai thác gỗ, nhưng ở đây Nhà nước không cho khai thác.” Một xóm người Dân tộc Tày ở tỉnh Cao Bằng. RFA PHOTO. Một người dân giấu tên ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn nói với RFA “Ở đây bà con nghèo lắm, chủ yếu là làm ruộng thôi. Ai làm kinh tế thì nuôi những con vật trâu, bò, nuôi ít thôi, làm để cải thiện kinh tế gia đình thôi. Nói chung khá giả không có, hầu như là không có, đa số là hộ nghèo…” Theo Ngân hàng Thế giới - World Bank, người dân tộc thiểu số chiếm 15% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 70% nhóm đối tượng cực nghèo. Trong những năm tăng trưởng nhanh của Việt Nam, người dân tộc thiểu số đã có mức sống được cải thiện, song thành quả được hưởng vẫn còn kém xa so với dân tộc chiếm đa số là người Kinh. Vấn đề hiện nay là đồng bào các dân tộc thiểu số thì thường thiếu đất. Mọi người cũng nhìn thấy rõ là hiện nay tỷ lệ đói nghèo nói chung của cả nước là giảm, nhưng tại vùng các dân tộc thiểu số thì lại sư Đặng Hùng Võ Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên - Môi trường, khi trao đổi với RFA hôm 16/7, cho biết vấn đề của người dân tộc thiểu số là thiếu đất sản xuất “Vấn đề hiện nay là đồng bào các dân tộc thiểu số thì thường thiếu đất. Mọi người cũng nhìn thấy rõ là hiện nay tỷ lệ đói nghèo nói chung của cả nước là giảm, nhưng tại vùng các dân tộc thiểu số thì lại tăng. Từ năm 2005, Chính phủ đã có chương trình để giải quyết đất cho đồng bào dân tộc Tây Nguyên, sau đó có mở rộng cho các vùng khác như Khmer Nam Bộ, Tây Bắc... Tuy nhiên do hạn chế ngân sách và lại không đi theo đúng hướng, cho nên không hiệu quả. Gần đây Quốc hội có thông qua một nghị quyết quan trọng, rà soát lại đất của các nông lâm trường quốc doanh, nếu sử dụng không hiệu quả, hay thừa đất thì chia lại cho người dân tộc.” Giáo sư Đặng Hùng Võ cho rằng tinh thần của nghị quyết này rất tốt. Tuy nhiên theo ông, đến khi triển khai thực tế lại không hiệu quả. Ông nói “Có một số nông lâm trường quốc doanh có chuyển lại đất cho địa phương, rồi chuyển cho đồng bào dân tộc thiểu số. Nhưng người dân tộc thiểu số lại nói rằng đất không màu mỡ, không dùng được, rồi lại ở xa khu dân cư quá... Câu chuyện là làm sao sử dụng hiệu quả đất đai có nguồn gốc từ các nông lâm trường trước đây, vẫn là địa phương không làm giống được như chủ trương của trung ương đặt ra.” Ngân hàng Thế giới - World Bank cho rằng, nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nghèo cao của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam là do bị cách biệt về địa lý và hạn chế trong tiếp cận thị trường, bị cô lập về mặt xã hội, yếu tố văn hóa và ngôn ngữ, hạn chế trong tiếp cận đất đai có chất lượng, tỷ lệ di cư khỏi nơi sinh sống thấp, và có trình độ học vấn thấp... This page in Làm gì để xóa nghèo ở Việt Nam? Vài tháng trước, tôi có chuyến đi Lào Cai - một khu vực có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi phía Bắc Việt Nam- để giám sát một cuộc khảo sát thí điểm. Tôi đã tình cờ gặp một người đàn ông lớn tuổi - một người điển hình trong số rất nhiều người mà chúng tôi đã gặp – đó là một người nông dân chỉ vừa đủ sống, có trình độ học vấn tối thiểu chỉ biết nói tiếng dân tộc và hiếm khi ra khỏi bản làng. Người dân tộc thiểu số chiếm 15% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 70% nhóm đối tượng cực nghèo được đo lường theo chuẩn cực nghèo quốc gia. Trong suốt hai thập kỷ tăng trưởng nhanh của Việt Nam, người dân tộc thiểu số ở quốc gia này đã có mức sống được cải thiện lên một cách toàn diện, song thành quả được hưởng của nhóm đối tượng này còn kém xa so với dân tộc chiếm đa số là người Kinh. Tại sao nghèo trong nhóm người dân tộc thiểu số lại dai dẳng như vậy? Đây là chủ đề của nhiều nghiên cứu, bao gồm nghiên cứu về phát triển và dân tộc thiểu số ở Việt Nam năm 2009 hay một chương trong Báo cáo Đánh giá Nghèo Việt Nam được chúng tôi thực hiện gần đây. Đây cũng là một mảng trong nghiên cứu phân tích mà nhóm của tôi hiện đang theo đuổi. Tôi đã đi sâu thêm để xem thực trạng của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam tương đồng như thế nào với thực trạng xảy ra đối với nhóm người bản địa ở một xã hội khác, tại Mê-hi-cô, nơi mà tôi đã sống một năm khi tôi làm luận văn. Tại cả hai quốc gia, các nhóm đối tượng này đều rất đa dạng, chiếm tỷ trọng như nhau trong tổng dân số của quốc gia đó và đều phải đối mặt với những thách thức tương tự như nhau. Thực ra, nghiên cứu so sánh toàn cầu tốt nhất do Gillette Hall và Harry Patrinos thực hiện và kết quả mà tôi đã xem xét về vấn đề này đều phát hiện ra những đặc điểm chung đáng kinh ngạc của các nhóm dân tộc thiểu số/bản địa trên khắp thế giới. Danh sách tôi đưa ra về các yếu tố tương quan là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nghèo cao của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam bao gồm Bị cách biệt về địa lý và hạn chế trong tiếp cận thị trường, Bị cô lập về mặt xã hội, yếu tố văn hóa và ngôn ngữ, Hạn chế trong tiếp cận đất đai có chất lượng, Tỷ lệ di cư khỏi nơi sinh sống thấp, và Trình độ học vấn thấp. Các yếu tố tương tự cũng sẽ thấy tại các nhóm người bản địa tại nhiều quốc gia khác. Tôi thấy lạc quan vì ít nhất mức độ quan trọng của một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trang nghèo đói của người dân tộc thiểu số đang ngày càng giảm đi. Các thế hệ trẻ em dân tộc thiểu số gần đây đã có trình độ học vấn tăng lên. Điều này có nghĩa là học tiếng Việt càng nhiều sẽ tạo cho họ khả năng kết nối thông qua thị trường và di cư trong tiến trình thịnh vượng diễn ra trên bình diện rộng hơn của quốc gia. Tôi đã nhìn thấy những dấu hiệu của hiện tượng này trong chuyến đi Lao Cai. Mặc dù người đàn ông lớn tuổi mà tôi đã mô tả ở trên có rất ít mối liên hệ với bên ngoài bản làng của mình, song các con ông đang ở độ tuổi 20 lại nói rất sõi tiếng Việt và đều đã đi làm ở xa. Tôi dự đoán rằng nếu sự chuyển đổi thế hệ này vẫn tiếp diễn và mạng lưới cho các nhóm dân tộc thiểu số được mở rộng, chúng ta sẽ chứng kiến ngày càng nhiều người rời bỏ đồng ruộng để tìm kiếm cơ hội ở nơi khác. Hai tuần trước, cùng với nhóm của mình, tôi đã đến bốn trường đại học ở Việt Nam để trình bày Báo cáo Đánh giá Nghèo Việt Nam. Các cuộc nói chuyện của chúng tôi đã tạo ra những thảo luận sống động và chúng tôi đã tổ chức lấy ý kiến của giảng viên và sinh viên tham gia thông qua tin nhắn điện thoại SMS về quan điểm của họ về cách tốt nhất để giảm nghèo đói cho nhóm dân tộc thiểu số. Đồng nghiệp của tôi, Nguyễn Thị Ngọc đã chạy kết quả lấy ý kiến trên máy tính của mình bằng một phần mềm nguồn mở FrontlineSMS. Câu trả lời phổ biến nhất đó là nâng cao tiếp cận thị trường và cung cấp giáo dục miễn phí, và có rất nhiều người lại đưa ra câu trả lời “khác” với cách thức do họ tự đề xuất. Khi nghĩ về nghèo đói của người dân tộc thiểu số/bản địa ở Việt Nam hoặc ở quốc gia của mình, bạn sẽ trả lời câu hỏi trưng cầu ý kiến này như thế nào? Vui lòng chia sẻ ý kiến của bạn với chúng tôi trong phần bình luận. Authors

vì sao việt nam nghèo